“Về, quay về thôi! Đi như ngựa vía thế này, mình sắp chết mệt rồi đây!” rõ ràng Kiều Kiều không có hứng thú “gần gũi thân mật” với quan tài treo.
Thường Uyển cũng phụ hoạ theo.
“Hai cậu thật thộn quá, hồi trước đã bảo các cậu nên tham gia câu lại bộ thể hình thì không nghe, giờ đã thấy rõ mình thiếu rèn luyện chưa?” Viên Thuyên nói không chút nể nang.
Thấy nét mặt Thường Uyển lộ vẻ không đồng tình, Tư Dao chậm rãi nói: “Đã là điểm cuối cùng rồi, sao không cố đi nốt cho trọn vẹn? Quan tài treo rất thú vị, các cậu nhìn thấy chắc chắn sẽ không thất vọng đâu. Tiểu Mạn nhìn kỹ lại bản đồ xem. Hay là để Lâm Mang giúp cậu xem, mình nhớ trước đây anh ấy tìm đường rất “có nghề”. Vừa nói xong, Tư Dao chợt nhận ra mình đã “nói hớ”.
Quả nhiên, Lâm Mang không chút khiêm nhường: “Được. Thì ra em vẫn nhớ trước đây chúng ta…”
“Em chẳng nhớ gì cả, già rồi, trí nhớ ngày càng kém”. Tư Dao đã nhận thấy ánh mắt khó chịu của Kiều Kiều, đành cố tự giễu mình để “chữa cháy”, cô cũng thấy mình thật vô duyên.
Tiểu Mạn lắc đầu nói: “Mình thấy bí rồi, rõ ràng là đi theo đúng bản đồ, giờ chẳng còn khái niệm gì nữa. Nếu anh Lâm Mang nhận ra đường, em xin trao quyền ngay”.
Viên Thuyên bỗng chỉ tay, nói nhỏ: “Nhìn kìa, có một người đang ngồi đằng kia!”
Chương 7
BỎ LỠ NIẾT BÀN
Trên tảng đá cao cách bọn họ hơn chục mét là một tượng người đang ngồi bất động! Nói đúng ra là một pho tượng. Bởi vì người đó ngồi quá lặng im, nên người tinh tế nhất nhóm là Viên Thuyên cũng phải căng mắt mới nhận ra được.
Người ấy mặc một chiếc áo mưa sẫm màu, điều làm cho mọi người ngạc nhiên hơn là trong lúc trời nắng thế này ông ta vẫn sùm sụp chiếc mũ áo mưa chóp nhọn trên đầu, khiến không ai nhìn rõ mặt.
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, già nửa ngày trời mới gặp một người lạ, lại ăn mặc như thế, ai cũng thấy sửng sốt. Kiều Kiều bất giác lùi về sau mấy bước, nắm chặt tay Lâm Mang.
Bỗng Viên Thuyên kéo Tiểu Mạn, bảo: “Đi với mình!” Dục Chu cũng bước nhanh lên theo, ba người đến sau lưng người mặc áo mưa, Viên Thuyên hỏi to: “Phiền ông có thể chỉ đường giúp không?”
Người ấy không ngoái lại, dường như lẩm bẩm gì đó.
Viên Thuyên nghe chưa rõ, hỏi lại: “Ông có thể nói to hơn một chút được không ạ?”
Người đó đột nhiên gầm lên, giọng vang như sấm: “Quay lại đi!”
“Gì ạ?” Viên Thuyên không dám tin sẽ nhận được câu trả lời như thế này.
Cuối cùng người đó quay nửa người về phía Viên Thuyên, cả khuôn mặt vẫn bị khuất sau chiếc mũ áo mưa, chỉ có thể cảm giác đây là một ông già. Ông ta nói chậm rãi, giọng khàn khàn cực kỳ già nua, khiến người nghe có cảm giác như tim mình đang bị chà xát.
“Lẽ nào ta nói chưa đủ to hay sao? Quay lại!”
“Tại sao ạ? ” Tiểu Mạn hình như cũng thấy sợ ông già, cô nắm lấy tay Viên Thuyên.
“Biết đây là chỗ nào không? ” Ông ta hỏi.
“Vách Niết Bàn à”. Viên Thuyên vẫn không nao núng, nhìn chằm chằm vào mắt ông già.
“Biết thế nào là “Niết Bàn” không? “
Viên Thuyên cười nhạt, rồi nói: “Cháu biết ông cho rằng bọn cháu đều không hiểu văn hoá, nhưng ít ra cháu cũng biết đại khái Niết Bàn có nghĩa là tái sinh. Hiểu được nó, là rất quan trọng hay sao? “
Ông già cười nhạt: “Bây giờ các người quay lại, chính là từ chỗ chết mà được sống lại, đến lượt cô nói xem có quan trọng hay không?”
Cả bọn đều hít sâu một hơi khí lạnh. Ông ta đang nói gì thế nhỉ?
“Kỳ lạ thật, ông còn chưa biết chúng cháu muốn đi đâu, sao có thể nói đến sống chết gì vậy? ” Viên Thuyên vẫn chưa chịu thôi.
“Trên núi này, thứ hấp dẫn mọi người và cũng khó tìm nhất là hang quan tai. Ta sống núi này đã nhiều năm, bị người ta hỏi nhiều nhất là hang quan tài, ta nghĩ các người cũng không ngoại lệ”
“Ông nói đến hang Thập Tịch phải không? Lẽ nào đã từng có nhiều người đi tìm rồi? ” Lúc này Tư Dao đã hết sợ đi lên mấy bước hỏi.
“Hang Thập Tịch? Các người nghe ở đâu ra cái tên thanh nhã thế? Người đến tìm nó cũng không nhiều, năm nay, các người là tốp đầu tiên.” Ông già quay đi lại ngồi đối diện với thung lũng sâu.
“Hang đó đã thu hút nhiều người như thế, tại sao không có người đến xem? Rất gần điểm du lịch chính thức ở núi Vũ Di, tại sao vẫn chưa được khai thác?” Viên Thuyên rõ ràng đã nghĩ ngợi xa hơn.
“Vì rất ít người biết đến thung lũng này, rất ít người biết đến hang đó.”
“Vậy tại sao những người đã từng vào cái lại không quảng bá về một nơi đẹp thế này?”
“Vì những người đã từng vào hang đó, không còn ai sống sót.” Ông ta nói rất bình thản, như thuật lại một sự thật hết sức bình thường.
Cả bọn kinh hãi, gió thổi tới, ai cũng cảm thấy lành lạnh.
“Ông là ai? Xin lỗi phải hỏi câu này, vì cháu thấy ông nói tiếng phổ thông rất chuẩn, không giống dân địa phương sống lâu năm trong thung lũng sâu này.” Viên Thuyên nói: Cả bọn đều thầm khen cô thật sắc sảo, rất biết quan sát và suy nghĩ thấu đáo.
“Từ nhỏ đã xa quê, đến già ta mới về. Ta sinh ra ở đây, thời thanh niên phiêu bạt bên ngoài, sau khi nghỉ hưu lại về đây. Ta biết câu hỏi của cô thật ra là “sao có thể tin lời ông nói? ” Ta không ép cô phải tin bất cứ kết luận nào, nhưng ta cũng không cần thiết phải nói dối. Doạ các người sợ, ta có được lợi gì đâu! Những người đã từng vào hang quan tài, cuối cùng đều đã chết, vấn đề chỉ là sớm hay muộn mà thôi. Trong thôn nơi ta sống, từ xa xưa người ta đã kháo nhau như vậy. Ta cũng từng chứng kiến người quen trong thôn sau khi vào hang trở về đều chết mà chẳng rõ tại sao.”
“Đã chết như thế nào ạ? “
“Đau thương đến chết.” Ông ta nhấn vào từng chữ.
“Gì ạ?!”
“Lần đầu tiên ta nghe được bốn chữ này từ miệng một thầy giáo tiểu học trong thôn. Hơn chục năm trước, ông ấy là một thanh niên từ nơi khác đến, không tin chuyện ma quái, không nghe dân thôn khuyên nhủ, cứ đi vào động quan tài, một tháng sau thì chết. Bác sĩ trên huyện nói phủ tạng ông ta bị suy kiệt. Trước lúc chết hai mắt ông ta nhìn trừng trừng cứ như là gặp ma giữa ban ngày rồi thốt ra bốn chữ “Đau thương đến chết”. Sau khi ta nghỉ hưu, suốt ngày đi khắp vùng núi này, mới biết bốn chữ ấy quả là rất không bình thường.
“Rất không bình thường như thế nào ạ?” Viên Thuyên truy hỏi.
“Rốt cuộc các người có quay lại không?” Ông già hỏi lại một cách hăm doạ.
“Chuyện ông kể hình như quá ư ly kỳ”. Tư Dao nói. “Nhưng lại khiến cháu cảm thấy hang quan tài càng bí hiểm hơn”.[/


