“Thật hãi hùng”.
“Thế kỷ này đã không chặn đứng được thói điên loạn. Dù sao thì…”
“Này, xin cha chờ cho một chút, chờ đã, xin cha thứ lỗi, mấy câu chuyện này, chúng được kể bởi những người đã bị tra tấn, đúng không? Do đó, tự căn bản, chúng không có gì đáng tin cậy cho lắm. Họ ký trước những bản cung khai rồi sau đó, những kẻ hỏi cung điền vào chỗ trống theo ý muốn. Tôi muốn nói là, làm gì có những đạo luật như là luật habae corpus đâu, làm như có những trát tòa kiểu như là ‘Hãy Để Cho Dân Tôi Đi’ đâu có thể nói như vậy. Tôi nói có đúng không? Tôi nói đúng đấy chứ?”
“Vâng, ông nói đúng, nhưng cũng xin thưa với ông rằng, nhiều bản cung khai đã mang tính chất tự nguyện”.
“Vậy thì kẻ nào lại tự nguyện đối với những điều kinh khiếp như thế?”
“Chà, có thể là những kẻ rối loạn tâm thần”.
“A ha, lại thêm một nguồn tin đáng tin cậy nữa đây”.
“Vâng, đã hẳn là ông hoàn toàn đúng, thưa Trung úy. Tôi chỉ đóng vai trò luật sư của quỷ đấy thôi. Nhưng có một điều, đôi khi chúng ta có khuynh hướng hay quên, đó là những kẻ đủ điên loạn để khai ra những điều như thế thì có thể cũng điên loạn để làm những điều đó, ta có thể quan niệm như thế lắm chứ. Ví dụ như những huyền thoại về ma sói. Vâng, đúng như vậy, những điều đó thực đáng nực cười, phi lý quá, có ai lại biến mình thành chó sói được đâu. Nhưng nếu có một kẻ tâm thần rối loạn cho đến nỗi chẳng những y nghĩ mình là một con ma sói, mà lại còn hành động giống như loài lang sói thì sao đây?”
“Kinh khủng thật, thưa cha. Điều này nghĩa lý ra làm sao? Lý thuyết chăng hay là sự thật?”
“Vâng, có một kẻ tên là William Stumpf, tôi xin nêu một ví dụ. Hay tên Peter gì đó. Tôi không nhớ rõ tên. Y là một người Đức sống vào thế kỷ thứ XVI, tự cho mình là một con ma sói. Y đã giết có lẽ phải đến hai mươi hoặc ba mươi em nhỏ”.
“Cha muốn nói là y đã khai ra điều đó chứ?”
“Đúng vậy, nhưng tôi nghĩ là lời cung khai ấy có giá trị”.
“Làm sao biết được như thế?”
“Thì khi người ta bắt y, y đang ăn óc hai người con dâu trẻ tuổi của y”.
Từ sân tập dã cầu, trong ánh nắng tháng Tư trong trẻo nhẹ nhàng, vọng lại âm thanh dòn dã của những tiếng chuyện trò, tiếng bóng dội lại từ chày quất.
Hai người đã ra đến bãi đậu xe, vị linh mục và nhà thám tử. Lúc này họ bước đi trong yên lặng.
Lúc họ đến bên xe tuần cảnh, Kinderman thẩn thờ với tay ra phía tay nắm cửa xe. Ông dừng lại một lúc, sau đó ngước lên nhìn Karras với ánh mắt ủ dột.
“Vậy là tôi phải đi tìm ai đây, thưa cha?” Ông hỏi vị linh mục.
“Một người điên”, Damien Karras nhỏ nhẹ nói. “Có lẽ một kẻ nghiện ma túy”.
Nhà thám tử nghĩ kỹ điều đó, rồi lẳng lặng gật đầu. Ông quay sang vị linh mục. “Cha muốn đi một cuốc xe không?” Ông hỏi, vừa mở cánh cửa xe tuần cảnh.
“Ồ, cảm ơn, có một quảng đường ngắn thôi ấy mà”.
“Hề gì, cứ thưởng thức”, Kinderman phác cử chỉ nóng nảy, vừa ra hiệu cho Karras leo lên xe. “Cha sẽ có dịp kháo với bạn bè là cha vừa lả lướt trên xe cảnh sát chứ sao”.
Vị linh mục Dòng Tên cười toét miệng rồi lách vào băng sau.
“Tốt lắm, tốt lắm”, nhà thám tử lầm thầm, giọng khản đặc, rồi lúng túng len người ngồi cạnh vị linh mục, xong đóng cửa lại. “Không có một chặng đường nào là ngắn cả”. Ông ta bình luận. “Không hề”.
Với sự chỉ dẫn của Karras, họ cho xe chạy xuống khu cư xá hiện đại của Dòng Tên tọa lạc trên phố Prospect, nơi vị linh mục vừa dọn vào chỗ ở mới. Ông cảm thấy nếu ông cứ lưu lại túp nhà nhỏ kia, ông sẽ không thể nào tránh được những kẻ ông đã từng khuyên bảo còn tiếp tục đến tìm sự giúp đỡ chuyên môn của ông nữa.
“Cha thích điện ảnh chứ, thưa cha Karras?”
“Rất thích”.
“Cha đã xem phim Lear chưa?”
“Không đủ khả năng”.
“Tôi xem rồi. Tôi có thẻ vào cửa”.
“Thế thì tuyệt quá”.
“Tôi có thẻ vào cửa để xem những phim hay nhất. Thế mà bà K. nhà tôi lại cứ mệt hoài, chả bao giờ thích đi xem”.
“Thật đáng tiếc”.
“Đáng tiếc thật ấy chứ, đúng thế đấy, tôi chúa ghét đi xem phim một mình. Cha biết đấy, tôi thích nói chuyện phim ảnh, thảo luận, phê bình”. Ông ta nhìn đăm đăm qua cửa sổ, tia mắt ngoảnh đi không ngó vị linh mục.
Karras lẳng lặng gật đầu, mắt nhìn xuống đôi bàn tay to lớn và thật mạnh mẽ của mình. Hai bàn tay chắp trên đùi. Một khoảnh khắc trôi qua. Sau đó Kinderman lưỡng lự quay lại với vẻ mong ngóng. “Lúc nào có dịp mời cha đi xem phim với tôi, cha nhé! Xem miễn phí… Tôi có thẻ vào cửa mà”. Ông vội nói thêm.
Vị linh mục nhìn ông, cười toét miệng. “Giống như cách Elwood P. Dowd hay nói trong phim Harvey, thưa Trung úy, khi nào?”
“Ồ, tôi sẽ gọi điện thoại cho cha mà, tôi sẽ gọi mà”. Nhà thám tử mặt mày rạng rỡ, xởi lởi.
Họ đã đến khu cư xá và đỗ xe lại. Karras đặt tay trên cửa xe, khẽ mở đánh “kịch” một tiếng. “Xin ông cứ gọi cho tôi. Thật tôi rất lấy làm tiếc đã không giúp gì được cho ông mấy”.
“Hề gì đâu, cha đã giúp ích rất nhiều”. Kinderman vẫy tay, vẻ ỉu xìu. Karras bước xuống xe. “Nói thật mà nghe, nếu xét như một người Do Thái đang cố vượt qua cuộc thi, thì cha là một người rất dễ mến”.
Karras quay lại, đóng cửa, nghiêng người xuống cửa sổ xe với một nụ cười nhiệt thành phảng phất. “Thiên hạ có bao giờ bảo ông là ông trông giống tài tử Paul Newman không?”
“Bảo hoài ấy chứ. Và cha cứ tin tôi đi, bên trong cái thân xác này, chàng Newman không ngừng phấn đấu để thoát ra ngoài, chứ ở trong đó chật chội quá”, ông bảo. “Còn có cả Clark Gable nữa chứ”.
Karras tươi cười vẫy tay rồi bước đi.
“Này cha, hượm đã!”
Karras quay lại, nhà thám tử đang chen người ra khỏi xe.
“Này thưa cha, tôi quên khuấy đi mất”, ông ta thở hào hển, vừa tiến lại gần vị linh mục. “Thật trí óc cứ mụ mẩm cả. Cha biết đấy chứ, cái tấm thẻ có viết những chữ nghĩa dơ dái ấy? Cái tấm người ta tìm thấy trong nhà thờ ấy?”
“Ông muốn nói đến tấm thẻ trên bàn thờ phải không?”
“Bất cứ. Nó vẫn còn quanh quẩn ở đâu đây đấy chứ?”
“Vâng, tôi vẫn còn giữ nó trong phòng. Tôi đang thẩm định văn thể La tinh trên đó. Ông muốn xem chứ?”
“Vâng, có lẽ nó sẽ tiết lộ đôi điều. Có lẽ vậy”.
“Đợi một giây, tôi đi lấy ngay”.
Trong lúc Kinderman đợi bên ngoài cạnh xe tuần cảnh, vị linh mục Dòng Tên đi đến phòng riêng của ông ở tầng trệt, nhìn ra phố Prospect, tìm thấy tấm thẻ kia. Ông vòng trở ra, trao thẻ cho Kinderman.
“Có lẽ còn vài vết dấu tay”, Kinderman nói, giọng khò khè, lúc ông xem xét tấm thẻ. Thế rồi, “không, hượm đã, cha đã c


